Lịch sử của ngành khoa học Sinh trắc học dấu vân tay.

(13/11/2013)

 

 

Lịch sử của ngành khoa học Sinh trắc học dấu vân tay

 

Năm 1685: Cuốn sách đầu tiên về vân tay học do tiến sĩ Gouard Bidloo công bố.

Năm 1686: Tiến sĩ Marcello Malphigi Barcelona, người đầu tiên dùng kiến hiển vi quan sát vân tay và ghi chép vào biên niên sử.

Năm 1788: J.C.Mayer là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và phá hiện ra dấu vân tay là duy nhất

Năm 1823: Tiến sĩ John Evangelist Purkinji, giá

o sư đại học Breslau (Đức) phân loại những chủng trên các vân tay thành 9 loại.

Năm 1880: Trong tạp chí Nature, Bác sĩ Người Anh Henry Faulds đưa ra kiến nghị lấy dấu vân tay của tội phạm tại hiện trường xảy ra vụ án và đưa ra lý luận gien vân tay

Năm 1888: Francis Galton (cháu của Charles Darwin) là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trong lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Vân sóng (không có tam giác điểm), vân móc (có 1 tam giác điểm), vân xoáy (có 2 tam giác điểm).

Galton cũng phát hiện tính cách con người theo hình dạng vân tay khác nhau. Ngày nay, cách nhận diện tính cách này vẫn được sử dụng trong vân tay học.

Năm1897: Harris Hawthorne Wilder – Nghiên cứu các gò trên bàn tay và gọi chúng là 3 điểm bán kính A, B, C; đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về các loại vân chính.

Năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu khoa học dấu vân tay đưa ra lí luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity).Giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.

Cũng trong năm 1943, Harold Cummins và Chales Midlo xuất bản tập sách đầu tiên giới thiệu về khoa học vân tay có tiêu đề:”Finger Prints, Palms and Soles – An Introduction to Dermatoglyphics” (Vân ngón tay, vân bàn tay và vân bàn chân –Giới thiệu về khoa học vân tay). Đây là cuốn sách rất quan trọng dành cho những người đầu tiên nghiên cứu về khoa học vân tay. Trong đó, ông trình bày về khái niệm “Dermatoglyphics” (Khoa học dấu vân tay), các phương pháp phân tích vân tay và chỉ số cường độ vân tay PI.

 Năm 1944: Tiến sĩ Tâm lý phân tích Julius Spier xuất bản cuốn sách "Bàn tay của trẻ em". Ông đã khám phá một số điểm đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý, chẩn đoán sự mất cân bằng và các vấn đề trong khu vực này từ các mô hình của bàn tay

Năm 1946: F.B.I.(Mỹ) đã thu thập 100 triệu dấu vân tay và đến năm 1971 số lượng tăng lên 200 triệu. Với công nghệ AFIS, các hồ sơ được phân loại thành hồ sơ tội phạm và hồ sơ dân sự.

Năm 1957: Tiến sĩ Walker sử dụng các cấu hình da trong chẩn đoán Hội chứng Down

Năm 1967: Beryl B Hutchinson – Người đầu tiên phát hiện ra vân tay học có thể chứng minh đặc tính bẩm sinh của mỗi người

Năm 1968: Sarah Holt nghiên cứu mô hình các vân tay của cả hai bàn tay và lòng bàn tay ở các dân tộc khác nhau cả về đặc tính bẩm sinh và sự tác động của môi trường

Năm 1969: John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD xuất bản cuốn "Thiên tài qua Vân tay", cung cấp phiên bản mới nhất về sự hình thành của vân tay

Năm 1974: Beverly C. Jaegers nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng các ký hiệu vân tay hiển thị trên bàn tay có thể cho biết đặc trưng tâm lý của con người.

Năm 1970: Liên Bang Xô Viết sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc lựa chọn thí sinh cho Thế vận hội Olympic.

Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou - Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay

Năm 2000: Tiến sĩ Stowens - Giám đốc Bệnh viện St Luke ở New York tuyên bố để có thể chẩn đoán tâm thần phân liệt và bệnh bạch cầu với độ chính xác hơn 90%. Tại Đức, Tiến sĩ Alexander Rodewald tuyên bố có thể xác định khuyết tật bẩm sinh tương đương với độ chính xác 90%.

Năm 2004: Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau.

 


 

Công nghệ sinh trắc học vân tay được ứng dụng trong giáo dục tại Malaysia ( Ảnh trên tạp chí Star của Malaysia )

 

 

Và tại Việt Nam, công nghệ Sinh trắc học vân tay cũng dần được ứng dụng rộng rãi trong việc phát hiện năng khiếu và định hướng nghề nghiệp . ( Ảnh chụp trên báo Mực Tím ).

 

 

 

Các bài viết khác